Doanh thu tăng mạnh nhờ hoạt động thương mại tàu bay
Công ty Cổ phần Hàng không Vietjet (HoSE: VJC) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý III/2026 với doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 22.849,4 tỷ đồng, tăng 35% so với mức 16.931,5 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Xét theo cơ cấu doanh thu, hoạt động vận chuyển hàng không tiếp tục đóng góp chủ lực với 16.775,5 tỷ đồng, tăng so với mức 15.905,7 tỷ đồng trong quý III/2025. Trong đó, mảng dịch vụ phụ trợ đóng góp 6.154,7 tỷ đồng; vận chuyển hành khách quốc tế đạt 3.880,8 tỷ đồng và vận chuyển nội địa đạt 3.731,7 tỷ đồng.
Đáng chú ý, doanh thu từ hoạt động thuê chuyến bay (charter) tăng gấp đôi, từ 1.432,6 tỷ đồng lên 3.008,3 tỷ đồng.

Tình hình kinh doanh của VJC
Một trong những điểm nổi bật trong cơ cấu doanh thu quý này là hoạt động thu xếp, chuyển quyền sở hữu và thương mại tàu bay, động cơ. Mảng này mang về 4.355,9 tỷ đồng, cao gấp khoảng 10 lần so với mức 434,6 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Ngoài ra, doanh thu từ hoạt động cho thuê tàu bay đạt 917,4 tỷ đồng và doanh thu khác đạt 800,7 tỷ đồng.
Về lợi nhuận, giá vốn hàng bán và cung cấp dịch vụ trong quý III/2026 ở mức 20.812,2 tỷ đồng, qua đó đưa lợi nhuận gộp lên 2.037,2 tỷ đồng.
Doanh thu hoạt động tài chính đạt 463,8 tỷ đồng, trong khi chi phí tài chính lên tới 1.267,3 tỷ đồng. Đáng chú ý, chi phí lãi vay chiếm 1.068,7 tỷ đồng trong tổng chi phí tài chính.
Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp lần lượt ở mức 599,3 tỷ đồng và 226,1 tỷ đồng.
Kết thúc quý III/2026, Vietjet ghi nhận lợi nhuận kế toán trước thuế đạt 410,3 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế đạt 348,3 tỷ đồng, tăng 8,8% so với mức 320,3 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Trong đó, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 346,6 tỷ đồng.
Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, doanh thu thuần của Vietjet đạt 74.385,1 tỷ đồng, tăng 41% so với mức 52.768,9 tỷ đồng cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận trước thuế đạt 1.972,5 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 1.720,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 1.715,7 tỷ đồng.
Tiền và tương đương tiền giảm hơn một nửa, tài sản dở dang tăng mạnh
Tại ngày 30/9/2026, tổng tài sản của Vietjet đạt 152.790 tỷ đồng, tăng khoảng 9,6% so với đầu năm.
Trong cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn đạt 56.266,3 tỷ đồng, chiếm 36,8% tổng tài sản. Đáng chú ý, các khoản phải thu ngắn hạn lên tới 42.887,9 tỷ đồng, tăng 35,2% so với mức 31.731,4 tỷ đồng đầu năm.
Trong đó, phải thu ngắn hạn của khách hàng đạt 22.575,1 tỷ đồng. Theo thuyết minh được cung cấp, khoản mục này bao gồm cả tiền đặt cọc mua tàu bay (PDP) được chuyển giao theo các hợp đồng hợp tác nguồn vốn.
Hàng tồn kho của doanh nghiệp đạt 2.560,4 tỷ đồng, tăng so với mức 2.194,1 tỷ đồng đầu năm.
Ở chiều ngược lại, tài sản dài hạn đạt 96.523,8 tỷ đồng, chiếm 63,2% tổng tài sản.
Đáng chú ý, tài sản dở dang dài hạn tăng mạnh lên 22.220,3 tỷ đồng, so với 13.916,5 tỷ đồng hồi đầu năm. Khoản mục này chủ yếu bao gồm chi phí đầu tư tàu bay, chi phí kiểm tra và sửa chữa lớn với 18.101 tỷ đồng; cùng chi phí đầu tư dự án Trung tâm bảo dưỡng tàu bay số 3 và số 4 tại Cảng hàng không quốc tế Long Thành là 889,4 tỷ đồng.
Ngoài ra, phải thu dài hạn đạt 25.092,6 tỷ đồng, chủ yếu liên quan đến quỹ bảo dưỡng tàu bay thuê và tiền đặt cọc thuê tàu bay.
Một điểm đáng chú ý khác nằm ở lượng tiền mặt của doanh nghiệp. Tại ngày 30/9/2026, tiền và các khoản tương đương tiền của Vietjet chỉ còn 5.209,6 tỷ đồng, giảm 52,6% so với mức 10.986,6 tỷ đồng đầu năm.
Trong cơ cấu này, tiền mặt tại quỹ chỉ còn 6,7 tỷ đồng; tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn đạt 2.532,7 tỷ đồng và các khoản tương đương tiền đạt 2.670,2 tỷ đồng.
Ngoài khoản tiền và tương đương tiền, Vietjet còn có 4.625 tỷ đồng tiền gửi có kỳ hạn và cho vay ngắn hạn thuộc khoản mục đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn.
Tính chung tiền và các khoản tương đương tiền cùng khoản đầu tư tài chính ngắn hạn nói trên, doanh nghiệp có khoảng 9.834,6 tỷ đồng.
Tổng dư nợ vay vượt 73.600 tỷ đồng, chi phí lãi vay gần 2.750 tỷ đồng
Tính đến ngày 30/9/2026, tổng nợ phải trả của Vietjet đạt 126.209,9 tỷ đồng, chiếm 82,6% tổng nguồn vốn. Trong khi đó, vốn chủ sở hữu đạt 26.580 tỷ đồng, tương ứng 17,4%.
Như vậy, nợ phải trả của doanh nghiệp cao gấp khoảng 4,75 lần vốn chủ sở hữu.
Đáng chú ý, tổng nợ vay của của Vietjet lên tới khoảng 73.635,3 tỷ đồng.

Dư nơ vay của Vietjet lên hơn 73.630 tỷ đồng.
Trong đó, vay nợ ngắn hạn ở mức 28.273 tỷ đồng. Riêng vay ngắn hạn ngân hàng là 25.035,4 tỷ đồng. Một số khoản vay lớn được ghi nhận tại HDBank (ngân hàng nằm trong hệ sinh thái với Vietjet) ghi nhận hơn hơn 10.183 tỷ đồng, BIDV khoảng 2.875 tỷ đồng và VietinBank khoảng 2.656 tỷ đồng.
Ở chiều dài hạn, vay nợ ở mức 45.362,3 tỷ đồng. Trong đó, vay dài hạn ngân hàng là 13.392,1 tỷ đồng; trái phiếu thường phát hành dài hạn đạt 29.500 tỷ đồng, sau khi trừ chi phí phát hành chưa phân bổ; còn lại là khoản phải trả thuê tài chính dài hạn 2.768 tỷ đồng.
Với quy mô hơn 73.600 tỷ đồng, dư nợ vay và nợ thuê tài chính tương đương khoảng 58,3% tổng nợ phải trả và 48,2% tổng nguồn vốn của Vietjet.
Áp lực từ quy mô nợ vay cũng thể hiện rõ qua chi phí tài chính. Trong 9 tháng đầu năm 2026, chi phí lãi vay của doanh nghiệp lên tới 2.748,5 tỷ đồng (tương đương hơn 10 tỷ đồng lãi vay mỗi ngày). Mức lãi vay này cao hơn lợi nhuận trước thuế cùng kỳ (1.972,5 tỷ đồng).
Riêng quý III/2026, chi phí lãi vay ghi nhận 1.068,7 tỷ đồng.
Dư nợ trái phiếu 29.500 tỷ đồng, tập trung đáo hạn giai đoạn 2028-2030
Trong cơ cấu nợ vay, trái phiếu là một kênh huy động vốn đáng chú ý của Vietjet.
Tại ngày 30/9/2026, doanh nghiệp còn 29.500 tỷ đồng dư nợ trái phiếu thường dài hạn. So với đầu năm, tổng dư nợ trái phiếu đã giảm 5.000 tỷ đồng do doanh nghiệp thanh toán toàn bộ khoản trái phiếu đến hạn trong 9 tháng đầu năm.
Theo đó, Vietjet không còn dư nợ trái phiếu ngắn hạn đến hạn trả tại thời điểm cuối tháng 9/2026.
Toàn bộ dư nợ trái phiếu dài hạn hiện tại được phân bổ vào 8 lô phát hành, với kỳ hạn từ 60 đến 84 tháng. Lịch đáo hạn tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2028-2030.
Cụ thể, năm 2028 có 9.000 tỷ đồng trái phiếu đáo hạn, gồm lô II trị giá 6.000 tỷ đồng và lô III trị giá 3.000 tỷ đồng.
Năm 2029 có 10.000 tỷ đồng trái phiếu đáo hạn, gồm lô IV trị giá 2.000 tỷ đồng và lô V trị giá 8.000 tỷ đồng.
Năm 2030 có 8.000 tỷ đồng trái phiếu đáo hạn, gồm lô VI trị giá 2.000 tỷ đồng, lô VII trị giá 1.000 tỷ đồng và lô VIII trị giá 5.000 tỷ đồng.
Số còn lại là 2.500 tỷ đồng thuộc lô IX, dự kiến đáo hạn năm 2032.
Đáng chú ý, toàn bộ các lô trái phiếu này đều không có tài sản bảo đảm. Lãi trái phiếu được thanh toán định kỳ 6 tháng một lần.
Về lãi suất, các lô trái phiếu áp dụng mức lãi suất cố định phổ biến từ 9,5-12%/năm trong 2-4 kỳ thanh toán đầu tiên. Riêng lô III có mức lãi suất cố định 10,5%/năm trong suốt kỳ hạn.
Đối với các kỳ tiếp theo, lãi suất được xác định theo lãi suất tiền gửi tiết kiệm cá nhân bằng đồng Việt Nam kỳ hạn 12-13 tháng của các ngân hàng thương mại cộng biên độ 3-4%/năm. Theo điều khoản được cung cấp, lãi suất thả nổi không thấp hơn mức lãi suất cố định ban đầu.
Trong bối cảnh ngành hàng không phục hồi và nhu cầu đi lại gia tăng, kết quả kinh doanh của Vietjet cho thấy đà tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận trong quý III/2026. Tuy nhiên, quy mô vay và nợ thuê tài chính vẫn ở mức lớn, trong khi hoạt động khai thác hàng không đòi hỏi nguồn vốn đáng kể cho đội tàu bay, bảo dưỡng và hạ tầng. Bài toán đặt ra với doanh nghiệp không chỉ là mở rộng quy mô kinh doanh mà còn phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kiểm soát chi phí tài chính và gắn tăng trưởng với yêu cầu phát triển bền vững, tiết kiệm năng lượng, giảm tác động môi trường trong hoạt động hàng không.