Lợi nhuận ngân hàng quý III: Lộ diện nhóm hưởng lợi từ loạt chính sách

Theo VCBS, lợi nhuận ngành ngân hàng dự kiến tiếp tục tăng trưởng tích cực với động lực chính đến từ thu nhập lãi khi các nhà băng đẩy nhanh giải ngân tín dụng, NIM tiếp đà hồi phục nhờ việc chuyển dịch cơ cấu cho vay sang các kỳ hạn dài và các khoản vay ưu đãi chuyển sang lãi suất thả nổi.

Theo dự báo của VCBS, lợi nhuận ngành ngân hàng quý III/2026 và cả năm tiếp tục nghiêng về gam màu tích cực với động lực chính đến từ thu nhập lãi.

Cụ thể, VCBS chỉ ra, các ngân hàng đẩy nhanh giải ngân tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn phục hồi, trong khi NIM toàn ngành bước vào chu kỳ hồi phục nhờ hai yếu tố là dịch chuyển cơ cấu cho vay sang các kỳ hạn dài hơn và các khoản vay ưu đãi chuyển sang lãi suất thả nổi sau khi hết thời gian hỗ trợ.

Nhóm ngân hàng quốc doanh và nhóm tư nhân lớn tham gia tài trợ các dự án hạ tầng trọng điểm là những đối tượng hưởng lợi rõ nhất từ các chính sách mới hỗ trợ thanh khoản, trong đó Thông tư 22 sửa đổi được xem là một trong những trợ lực quan trọng cho khả năng cho vay trung dài hạn của hệ thống.

Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu về cơ bản vẫn được kiểm soát ổn định trên diện rộng. Tuy nhiên, VCBS lưu ý xu hướng gia tăng của tỷ lệ nợ nhóm 2 và tỷ lệ hình thành nợ xấu mới, đây là yếu tố cần theo dõi sát trong các quý tới bởi có thể là chỉ báo sớm cho áp lực trích lập dự phòng sau giai đoạn tín dụng tăng tốc.

Nhìn vào từng ngân hàng cụ thể, động lực tăng trưởng phân hóa khá rõ theo ba nhóm chính.

Nhóm thứ nhất là các ngân hàng quốc doanh, đại diện là VietinBank và BIDV. Trong đó, VietinBank được dự báo tăng trưởng tín dụng 15,6% trong 2026, tương đương trung bình ngành với NIM bắt đầu phục hồi từ nửa cuối năm nhờ Thông tư 22 sửa đổi, kỳ vọng đạt 2,7% cho cả năm. Lợi nhuận trước thuế quý III được dự báo tăng 18% và cả năm tăng 26%, một phần nhờ hoạt động thu hồi nợ tích cực và thương vụ chuyển nhượng dự án VietinBank Tower có thể mang lại khoảng 5.000 tỷ đồng lợi nhuận.

BIDV có tốc độ tăng trưởng khiêm tốn hơn, tín dụng 16,1% chủ yếu từ mảng bán buôn, NIM vẫn ở mức thấp 2,1% do đặc thù cơ cấu cho vay. Điểm đáng chú ý ở BIDV là kế hoạch nâng vốn điều lệ từ 72.800 tỷ lên tối đa 99.558 tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2027 qua ba cấu phần, cùng kỳ vọng tỷ lệ nợ xấu giảm về 1,3% vào cuối năm.

Nhóm thứ hai gồm các ngân hàng tư nhân lớn có tốc độ tăng trưởng tín dụng vượt trội và đang tích cực xây dựng hệ sinh thái để đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi.

Techcombank dẫn đầu về mức độ gắn với hạ tầng trọng điểm với tín dụng dự kiến đạt 23,5% năm 2026, cao hơn trung bình ngành, đồng thời duy trì lợi thế NIM nhờ CASA cao và các khoản vay lợi suất cao như cho vay thế chấp, cho vay ký quỹ; động lực lợi nhuận ngoài lãi đến từ việc thành lập TCLife, góp vốn MDP và mở rộng sang thị trường tài sản số, vàng.

MB và VPBank cùng nằm trong nhóm tín dụng cao nhất ngành, quanh 35%. Trong đó, MB duy trì NIM ổn định 3,9% và thu nhập phí khả quan còn VPBank phụ thuộc nhiều vào đóng góp lợi nhuận từ các công ty con, đặc biệt FE Credit và VPBankS, cùng kỳ vọng NIM cải thiện nhờ tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn đã giảm đáng kể.

HDBank cũng có mức tăng trưởng tín dụng cao, lên tới 35% cho 2026, với lợi nhuận trước thuế quý III dự báo tăng tới 53% nhờ giảm áp lực thu hẹp NIM và đóng góp ngày càng lớn từ HD Saison. Kế hoạch IPO các công ty con như HDS, HD Saison cũng được xem là dư địa tăng giá trong trung hạn.

Nhóm thứ ba là các ngân hàng mà lợi nhuận năm 2026 chịu ảnh hưởng đáng kể từ các khoản thu nhập bất thường liên quan đến xử lý nợ tồn đọng, khiến biến động lợi nhuận giữa các quý không phản ánh đầy đủ xu hướng kinh doanh cốt lõi.

MSB là ví dụ rõ nhất, với tỷ lệ nợ xấu dự kiến giảm về 2% nhờ tín dụng tăng mạnh và tăng thu hồi nợ đã xóa, điểm rơi lợi nhuận tập trung vào nửa cuối năm khi ngân hàng hoàn thành thu hồi một khoản nợ tồn đọng lớn, dự báo đóng góp 1.000-1.500 tỷ đồng.

Sacombank cũng ở tình trạng tương tự khi thu nhập lãi tăng chậm lại, NIM giảm về 3,0%, nhưng lợi nhuận cả năm vẫn được dự báo tăng 53% nhờ kỳ vọng xử lý dứt điểm phương án đấu giá 32,5% cổ phiếu VAMC và khoản nợ của Bamboo Airways. ACB, dù không có yếu tố đột biến rõ rệt như hai trường hợp trên nhưng cũng được đánh giá còn dư địa cải thiện khả năng sinh lời năm 2026 nhờ bộ đệm dự phòng đã tăng mạnh vào cuối năm 2025, nếu hoạt động thu hồi và xử lý nợ được đẩy mạnh.

Ở chiều ngược lại, VIB là trường hợp đáng lưu ý về áp lực nội tại. Dù thu nhập ngoài lãi được hỗ trợ bởi doanh thu bảo hiểm phục hồi và thu từ xử lý nợ xấu, ngân hàng này vẫn phải duy trì mức trích lập rủi ro cao do áp lực nợ xấu nội tại chưa được giải tỏa, khiến lợi nhuận trước thuế gần như đi ngang so với mức bình quân nửa đầu năm.