Chiều ngày 15/1, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) đã tổ chức Diễn đàn khoa học về xúc tiến đầu tư và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực năng lượng. Sự kiện thu hút sự tham gia của đông đảo các nhà quản lý, giới khoa học và cộng đồng doanh nghiệp nhằm tháo gỡ các "điểm nghẽn" và định hình tương lai năng lượng quốc gia.

Diễn đàn khoa học về xúc tiến đầu tư và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực năng lượng. Ảnh: báo Công Thương
Theo Quyết định số 768/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch điện VIII, Việt Nam xác định sẽ từng bước xây dựng các nhà máy điện hạt nhân để bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường. Đây là giải pháp tổng hòa bên cạnh việc khai thác tối đa nguồn năng lượng tái tạo và nhập khẩu điện.
Công nghệ lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR) đang nổi lên như một xu hướng tích cực trên thế giới với công suất dưới 300 MW. So với các nhà máy quy mô lớn, SMR có ưu thế vượt trội về: tiến độ triển khai nhanh chóng và giảm vốn đầu tư ban đầu; khả năng sản xuất hàng loạt tại nhà máy và vận chuyển đến địa điểm lắp đặt; phù hợp với nhu cầu điện khổng lồ từ các trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI).
Tại Việt Nam, các tập đoàn nhà nước như EVN và Petrovietnam dự kiến sẽ giữ vai trò chủ đạo, làm chủ đầu tư các dự án trọng điểm như Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2.

Mô hình Nhà máy điện hạt nhân. Ảnh: PV
Việc tiếp thu và làm chủ công nghệ cao là mục tiêu cốt lõi để đảm bảo sự tự chủ trong ngành năng lượng. Ông Lã Hồng Kỳ, đại diện Văn phòng Ban Chỉ đạo Nhà nước các dự án ngành năng lượng, đã chỉ rõ lộ trình chuyển giao công nghệ điện hạt nhân qua 4 giai đoạn chiến lược: vận hành và bảo trì; nội địa hóa chuỗi cung ứng; làm chủ nhiên liệu và quản lý chất thải; tự thiết kế và nghiên cứu các thế hệ lò mới như SMR.
Đặc biệt, Việt Nam ưu tiên lựa chọn các công nghệ thế hệ III+ (như VVER-1200 của Nga, AP1000 của Mỹ, APR-1400 của Hàn Quốc) với thời gian vận hành từ 60-80 năm và mức độ an toàn cao nhất sau sự cố Fukushima.
Ngành năng lượng Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử khi phải song hành giữa tăng trưởng kinh tế và cam kết phát thải ròng bằng "0". Theo TS. Trịnh Quốc Vinh, Ủy viên Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương cho rằng, giai đoạn 2024-2025 đánh dấu sự chuyển đổi từ tư duy lập quy hoạch sang quản trị thực thi quy hoạch.
Lộ trình năng lượng dài hạn của Việt Nam bao gồm: Loại bỏ hoàn toàn điện than vào năm 2050. Phát triển điện khí LNG, điện gió, thủy điện tích năng và điện mặt trời mái nhà thành các trụ cột mới. Hiện thực hóa các lĩnh vực mới như hydro xanh và amoniac xanh. Tái khởi động chương trình điện hạt nhân sau năm 2035 để làm nguồn điện nền sạch.
Diễn đàn nhấn mạnh vai trò của mô hình hợp tác “bốn nhà”: Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp – Đối tác quốc tế. Đây là mối liên kết then chốt giúp các chính sách thực sự đi vào cuộc sống và giải quyết các vấn đề về vốn, thủ tục pháp lý.
Bên cạnh đó, kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) – nơi năng lượng tái tạo chiếm 47% sản lượng điện năm 2024 – mang lại nhiều bài học quý giá cho Việt Nam về thể chế và tài chính xanh. Việc sử dụng các hạ tầng công cộng như metro, sân bay làm “phòng thí nghiệm chính sách” để thí điểm công nghệ mới cũng là một hướng tiếp cận đầy triển vọng.
Dù còn nhiều thách thức về vốn và sự đồng thuận xã hội, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, việc triển khai thành công các dự án năng lượng mới và điện hạt nhân sẽ là vận hội lớn để Việt Nam phát triển bền vững. Sự đồng lòng của các bên liên quan sẽ giúp an ninh năng lượng song hành vững chắc với các cam kết môi trường dài hạn.