Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP, xác định rõ nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để điều hành phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước năm 2026. Nghị quyết không chỉ tổng kết những nỗ lực vượt khó của năm 2025, mà quan trọng hơn, phát đi thông điệp mạnh mẽ về một năm “tăng tốc”, mở đầu cho giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên.
Theo đánh giá của Chính phủ, năm 2025 là một năm đặc biệt nhiều thách thức khi kinh tế thế giới suy giảm, thương mại toàn cầu biến động mạnh, trong khi trong nước liên tiếp chịu tác động nặng nề của thiên tai, bão lũ vượt mức lịch sử. Tuy nhiên, bằng sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt và kịp thời, Chính phủ đã chủ động thích ứng, “xoay chuyển tình thế, chuyển đổi trạng thái”, giữ vững ổn định kinh tế – xã hội.
Những kết quả đạt được không chỉ giúp củng cố niềm tin của Nhân dân, mà còn tạo dựng hình ảnh tích cực của Việt Nam trong mắt cộng đồng quốc tế, đồng thời hình thành đà đổi mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Nghị quyết 01/NQ-CP nhấn mạnh: năm 2026 mang ý nghĩa đặc biệt khi diễn ra Đại hội XIV của Đảng, bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp, đồng thời là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2026–2030. Đây là thời điểm đòi hỏi tư duy điều hành mới, quyết tâm chính trị cao hơn và hành động quyết liệt hơn.
Với tinh thần đó, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng cao, phấn đấu đạt mức hai con số, song song với yêu cầu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Để thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, Chính phủ đưa ra 12 nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:
1. Tập trung hoàn thiện đồng bộ thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
2. Tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, nợ công, bội chi ngân sách nhà nước trong giới hạn quy định; ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế, thương mại thế giới; thúc đẩy và làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), khai thác mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới.
3. Tiếp tục hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy hành chính; tăng cường phân cấp, phân quyền, đề cao trách nhiệm người đứng đầu; đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính gắn với kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi của bộ máy trong điều kiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ.
4. Chuyển đổi căn bản mô hình tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo; đặt nâng cao năng suất, chất lượng nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm của chiến lược phát triển; cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xanh, số, tuần hoàn, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tính tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế.
5. Tập trung đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng chiến lược hiện đại, đồng bộ, tạo nền tảng cho năng lực cạnh tranh quốc gia, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, hệ thống giao thông trục quốc gia, đường sắt, sân bay quốc tế, cảng biển, năng lượng; thúc đẩy các dự án có tính liên vùng, hạ tầng đô thị lớn, hạ tầng chuyển đổi số; điều chỉnh quy hoạch phù hợp với bối cảnh mới.
6. Tạo đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là trong lĩnh vực chíp, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo; nâng mặt bằng kỹ năng của toàn xã hội.
7. Chú trọng phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và bảo đảm an sinh xã hội.
8. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường.
9. Tăng cường liên kết vùng, thực hiện hiệu quả quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; nâng cao chất lượng đô thị hoá và kinh tế đô thị.
10. Củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; tiếp tục xây dựng và củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc; bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội.
11. Triển khai đồng bộ, hiệu quả, toàn diện công tác đối ngoại, hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển, củng cố và nâng cao uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam.
12. Chủ động hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền, tạo động lực, truyền cảm hứng, khuyến khích đổi mới sáng tạo; nâng cao hiệu quả công tác dân vận.
Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể; xây dựng kịch bản tăng trưởng theo quý, theo ngành và theo địa phương; rà soát, điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng GRDP nếu chưa tương xứng với mục tiêu chung.