Trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng xanh, ngân hàng không chỉ đóng vai trò cung ứng vốn mà còn là một mắt xích quan trọng định hướng dòng tiền vào các lĩnh vực ít phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thân thiện với môi trường. Với BVBank, bức tranh 6 tháng đầu năm 2026 cho thấy lợi nhuận tăng mạnh, song đi cùng là những vấn đề cần tiếp tục theo dõi về chất lượng tài sản, nợ xấu và mức độ tập trung tín dụng. Điều này đặt ra câu hỏi về khả năng cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng, kiểm soát rủi ro và chuyển dịch dòng vốn theo hướng bền vững
26 cổ đông nắm gần 47% vốn tại BVBank
Dữ liệu Tạp chí Kinh tế Môi trường cho thấy, tính đến ngày 30/6/2026, Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank, mã: BVB) có 26 cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, với tổng tỷ lệ sở hữu đạt 46,85% vốn điều lệ.
Đáng chú ý, trong nhóm cổ đông nội bộ và người có liên quan được báo cáo, ông Lê Anh Tài, Chủ tịch HĐQT BVBank, là cá nhân sở hữu lượng cổ phần lớn nhất với 17,785 triệu cổ phiếu, tương đương 2,775% vốn điều lệ. Đứng sau là bà Nguyễn Thị Thu Hà, Thành viên HĐQT, sở hữu 12,684 triệu cổ phiếu, tương ứng 1,979%.
Tính đến ngày 30/6/2026, BVBank có 26 cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, với tổng tỷ lệ sở hữu đạt 46,85% vốn điều lệ.Báo cáo quản trị 6 tháng đầu năm của BVBank cho thấy, các cá nhân khác sở hữu trên 1% vốn điều lệ gồm ông Nguyễn Thanh Tú, Phó Tổng Giám đốc, với 9,342 triệu cổ phiếu (1,458%); ông Phan Việt Hải, Phó Tổng Giám đốc, sở hữu 9,284 triệu cổ phiếu (1,449%); bà Văn Thành Khánh Linh, Phó Tổng Giám đốc, sở hữu 8,115 triệu cổ phiếu (1,266%); ông Lý Công Nha, Trưởng Ban Kiểm soát, sở hữu 7,705 triệu cổ phiếu (1,202%); và ông Lê Văn Bé Mười, Phó Tổng Giám đốc, sở hữu 7,528 triệu cổ phiếu (1,144%).
Ngoài ra, bà Trần Thị Đặng Ngọc, vợ ông Nguyễn Nhất Nam – Thành viên HĐQT, cũng sở hữu 6,513 triệu cổ phiếu BVBank, tương đương 1,016% vốn điều lệ.
Riêng 8 cá nhân có tỷ lệ sở hữu từ 1% trở lên thể hiện trong bảng này đang nắm tổng cộng khoảng 78,96 triệu cổ phiếu, tương đương 12,289% vốn điều lệ của BVBank.
Lãi trong 6 tháng của BVBank tăng mạnh
Trong 6 tháng đầu năm 2026, BVBank ghi nhận 547,4 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế hợp nhất, tăng tới 485,8% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 437,2 tỷ đồng, tăng 487,3%.
Động lực chính đến từ hoạt động tín dụng. Thu nhập lãi thuần đạt 1.680,2 tỷ đồng, tăng 46,3% so với cùng kỳ. BVBank cho biết kết quả này được hỗ trợ bởi việc mở rộng quy mô tín dụng, đồng thời quản lý cơ cấu tài sản sinh lãi và nguồn vốn.
Các nguồn thu ngoài lãi cũng có sự cải thiện. Lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt 72,6 tỷ đồng, tăng 36,3%. Lãi thuần từ hoạt động khác đạt 113,4 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 24,74 tỷ đồng cùng kỳ, trong đó đáng chú ý là 125,02 tỷ đồng thu hồi các khoản nợ đã xử lý rủi ro. Hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư cũng chuyển từ lỗ 0,49 tỷ đồng sang lãi 2,68 tỷ đồng.
Ở chiều ngược lại, hoạt động dịch vụ ghi nhận lỗ thuần 28,3 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi 14,5 tỷ đồng. Nguyên nhân được ghi nhận là chi phí hoạt động dịch vụ thanh toán cùng cước phí bưu điện và mạng viễn thông tăng cao.
Nhờ đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 1.840,56 tỷ đồng, tăng 48,4% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí hoạt động chỉ tăng 12,2%, lên 920,45 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể tốc độ tăng thu nhập. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt 372,71 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ.
Nợ xấu tăng, tỷ lệ nợ xấu lên 3,22%
Dù lợi nhuận tăng mạnh, chất lượng tài sản vẫn là vấn đề đáng chú ý tại BVBank. Tính đến ngày 30/6/2026, dư nợ cho vay khách hàng đạt 83.385 tỷ đồng.
Trong đó, nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1) đạt 79.595,13 tỷ đồng, chiếm 95,45% tổng dư nợ. Nợ cần chú ý (nhóm 2) ở mức 1.038,27 tỷ đồng, chiếm 1,25%.
Chất lượng nợ vay của BVBank.Đáng chú ý, tổng nợ xấu nội bảng (nhóm 3, 4 và 5) lên tới 2.686,13 tỷ đồng, tăng khoảng 14,7% so với mức 2.341,15 tỷ đồng cuối năm 2025. Theo đó, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 3,01% lên 3,22% tổng dư nợ cho vay khách hàng.
Trong cơ cấu nợ xấu, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 1.730,1 tỷ đồng, tương đương khoảng 64,4% tổng nợ xấu. Nợ dưới tiêu chuẩn đạt 432,34 tỷ đồng, trong khi nợ nghi ngờ ở mức 523,67 tỷ đồng.
Để xử lý rủi ro, BVBank có 1.170,49 tỷ đồng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng, gồm 558,57 tỷ đồng dự phòng cụ thể và 611,92 tỷ đồng dự phòng chung. Số dư nợ gốc trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành còn 1.351,09 tỷ đồng, giảm 94,85 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm. Ngân hàng đã trích lập lũy kế 539,11 tỷ đồng cho khoản trái phiếu này.
Đáng chú ý, số dư nợ khó đòi đã xử lý rủi ro nhưng vẫn đang được theo dõi để thu hồi lên tới 4.140,38 tỷ đồng, gồm 1.686,53 tỷ đồng nợ gốc và 2.453,86 tỷ đồng nợ lãi.
Bất động sản chiếm hơn 30% dư nợ
Một điểm khác cần lưu ý là mức độ tập trung tín dụng vào bất động sản. Đến cuối tháng 6/2026, dư nợ cho vay lĩnh vực kinh doanh bất động sản tại BVBank đạt 25.047,67 tỷ đồng, tương đương 30,04% tổng dư nợ cho vay khách hàng.
Bất động sản hiện là lĩnh vực có dư nợ lớn thứ hai tại BVBank, chỉ sau bán buôn, bán lẻ, lĩnh vực chiếm 39,61% tổng dư nợ.
BVBank và dòng vốn xanh: Từ tín dụng ưu đãi đến chuyển đổi bền vững
BVBank đã triển khai các chương trình tín dụng xanh hướng dòng vốn vào những hoạt động có yếu tố tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo và sản xuất nông nghiệp theo các tiêu chuẩn xanh.
Theo thông tin công bố trên website, các nhu cầu vốn được BVBank xếp vào nhóm tín dụng xanh gồm đầu tư máy móc, dây chuyền tiết kiệm nhiên liệu; hệ thống điện mặt trời và thiết bị tạo năng lượng tái tạo; hoạt động nuôi trồng theo các mô hình VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, VietGAHP; cũng như nhu cầu mua các thiết bị tiết kiệm năng lượng, ô tô hybrid và ô tô điện.
BVBank cũng duy trì các sản phẩm và chương trình ưu đãi liên quan đến tín dụng xanh. Một chương trình cho vay tiêu dùng của ngân hàng hiện cho phép khách hàng tham gia chương trình tín dụng xanh hoặc một số sản phẩm đặc thù được hưởng mức giảm lãi suất tối đa 2%/năm.
Ở góc độ phát triển bền vững, BVBank cho biết định hướng năm 2026 là tăng trưởng hiệu quả, an toàn và bền vững, đồng thời tập trung vào khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng cũng nhấn mạnh việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đầu tư công nghệ và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ mức độ đóng góp của BVBank đối với tài chính xanh, cần theo dõi thêm các chỉ tiêu định lượng như dư nợ tín dụng xanh, tỷ trọng tín dụng xanh trong tổng dư nợ, số lượng dự án được tài trợ, mức giảm phát thải hoặc tác động môi trường của các dự án. Đây là những dữ liệu quan trọng để phân biệt giữa việc triển khai sản phẩm tín dụng xanh và một chiến lược tài chính xanh có quy mô, tác động thực chất.