Điều gì khiến lợi nhuận VietinBank Securities giảm tới 91%?

Biến động của danh mục tự doanh của VietinBank Securities gần như cuốn trôi phần lớn lợi nhuận tạo ra từ cho vay ký quỹ, tiền gửi và trái phiếu.

Thu nhập từ cho vay ký quỹ tăng mạnh, song VietinBank Securities (HoSE: CTS) chỉ lãi hơn 15 tỷ đồng trong quý II/2026, giảm 91% so với cùng kỳ. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở danh mục tài sản tài chính ghi nhận qua lãi/lỗ, khi kết quả chuyển từ lãi 165 tỷ đồng sang lỗ gần 33 tỷ đồng.

Theo văn bản giải trình của CTS, tổng doanh thu và thu nhập khác trong quý II/2026 đạt gần 357,6 tỷ đồng, giảm 38% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tổng chi phí chỉ giảm 6% còn gần 338,9 tỷ đồng. Doanh nghiệp cho biết nguyên nhân chủ yếu đến từ việc đánh giá lại các tài sản tài chính ghi nhận thông qua lãi/lỗ (sau đây gọi là FVTPL), cùng sự sụt giảm của lãi bán tài sản tài chính.

Danh mục FVTPL từ lãi 165 tỷ đồng sang lỗ 33 tỷ đồng

Báo cáo kết quả hoạt động cho thấy trong quý II/2026, CTS ghi nhận hơn 97 tỷ đồng lãi từ tài sản tài chính FVTPL, giảm 73% so với mức 361 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, các khoản lỗ liên quan đến danh mục này vẫn lên tới 130 tỷ đồng. Như vậy, nếu bù trừ giữa doanh thu và chi phí FVTPL, CTS lỗ gần 33 tỷ đồng trong quý II/2026.

Một năm trước, cùng danh mục này mang lại khoản lãi ròng hơn 165 tỷ đồng. Kết quả tự doanh FVTPL vì thế đã suy giảm khoảng 198 tỷ đồng chỉ sau một năm.

Nếu tính thêm gần 3,9 tỷ đồng chi phí hoạt động tự doanh, phần FVTPL và hoạt động trực tiếp liên quan tạo ra khoản lỗ khoảng 36,8 tỷ đồng trong quý vừa qua, trong khi cùng kỳ vẫn lãi hơn 156 tỷ đồng. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất khiến lợi nhuận của CTS lao dốc.

Tuy nhiên, khoản lỗ này không chủ yếu đến từ việc bán chứng khoán dưới giá vốn. Trong quý II, CTS vẫn lãi ròng khoảng 16,8 tỷ đồng từ các giao dịch đã thực hiện, bao gồm 18,6 tỷ đồng lãi bán tài sản tài chính và gần 1,9 tỷ đồng lỗ bán.

Áp lực lớn nhất nằm ở khâu đánh giá lại danh mục. Công ty ghi nhận 72,3 tỷ đồng chênh lệch tăng nhưng đồng thời phải hạch toán 128,2 tỷ đồng chênh lệch giảm. Phần đánh giá lại ròng vì thế âm gần 55,9 tỷ đồng.

Nói cách khác, một phần lớn khoản lỗ tự doanh quý II mang tính chất “lỗ trên sổ sách”: giá trị thị trường của tài sản giảm tại ngày lập báo cáo, dù chứng khoán có thể chưa được bán. Tuy nhiên, do được phân loại FVTPL, khoản giảm giá vẫn phải ghi nhận trực tiếp vào báo cáo kết quả kinh doanh.

Thuyết minh tại BCTC quý II cho thấy danh mục cổ phiếu niêm yết của CTS vẫn có giá trị hợp lý cao hơn giá vốn khoảng 68,2 tỷ đồng tại cuối tháng 6. Tuy nhiên, mức lãi này đã giảm đáng kể so với khoản chênh lệch dương 128,5 tỷ đồng vào cuối quý I.

Một số khoản điều chỉnh giảm đáng chú ý trong quý xuất hiện tại cổ phiếu Eximbank với hơn 37,3 tỷ đồng, Thiết bị điện Gelex gần 20,8 tỷ đồng, Hạ tầng Gelex hơn 29,4 tỷ đồng, Taseco Land 12,46 tỷ đồng và Chương Dương hơn 8 tỷ đồng.

Ở chiều ngược lại, một số cổ phiếu vẫn ghi nhận chênh lệch tăng, qua đó bù đắp một phần tổn thất của danh mục.

Đáng chú ý hơn là nhóm cổ phiếu chưa niêm yết. Tại ngày 30/6, giá vốn nhóm này lên tới 138,4 tỷ đồng nhưng giá trị hợp lý chỉ còn hơn 60,3 tỷ đồng, tương ứng khoản chênh lệch âm khoảng 78 tỷ đồng.

Riêng khoản đầu tư vào Công ty CP Nông nghiệp Quốc tế Hoàng Anh Gia Lai có giá vốn 94,7 tỷ đồng nhưng được đánh giá còn gần 43,1 tỷ đồng, thấp hơn giá vốn 51,6 tỷ đồng. Khoản đầu tư vào Tổng công ty Thương mại Xuất nhập khẩu Thanh Lễ cũng có giá trị hợp lý khoảng 15,5 tỷ đồng, so với giá vốn hơn 35 tỷ đồng.

Tổng thể, giá vốn danh mục FVTPL của CTS tại cuối tháng 6 đạt gần 2.781,6 tỷ đồng, trong khi giá trị hợp lý là 2.780,8 tỷ đồng. Như vậy, toàn danh mục gần như hòa vốn tại thời điểm lập báo cáo, nhưng bên trong tồn tại sự phân hóa lớn giữa các khoản đang lãi và các khoản đang lỗ.

Danh mục tài sản tài chính sẵn sàng để bán, AFS, cũng chịu tác động bất lợi. CTS ghi nhận khoản lỗ đánh giá lại gần 28,65 tỷ đồng trong thu nhập toàn diện khác của quý II. Khoản này không đi trực tiếp vào lợi nhuận sau thuế nhưng làm giảm chênh lệch đánh giá tài sản trong vốn chủ sở hữu.

Trong bối cảnh tự doanh sa sút, cho vay ký quỹ trở thành trụ đỡ quan trọng nhất đối với kết quả kinh doanh của CTS. Doanh thu lãi từ các khoản cho vay và phải thu trong quý II đạt hơn 145,3 tỷ đồng, tăng 39% so với cùng kỳ. Trong đó, riêng lãi cho vay giao dịch ký quỹ đạt 142,5 tỷ đồng.

Dư nợ cho vay của CTS tại cuối tháng 6 lên tới 5.321,8 tỷ đồng, tăng hơn 357 tỷ đồng so với đầu năm. Phần lớn là dư nợ cho vay hoạt động ký quỹ, đạt 5.276,4 tỷ đồng.

Thu nhập từ tiền gửi, trái phiếu nắm giữ đến ngày đáo hạn và các tài sản AFS cũng đạt tổng cộng khoảng 73,4 tỷ đồng, tăng hơn 21% so với cùng kỳ. Các nguồn thu tương đối ổn định này giúp CTS duy trì lợi nhuận dương dù danh mục FVTPL thua lỗ.

Như vậy, nếu sử dụng khái niệm tự doanh theo nghĩa bao gồm cả tiền gửi, trái phiếu HTM và tài sản AFS, toàn bộ hoạt động đầu tư của CTS chưa hẳn bị lỗ. Phần thua lỗ tập trung chủ yếu tại danh mục FVTPL, đặc biệt là biến động đánh giá lại cổ phiếu và các tài sản có giá thị trường.

Ở mảng môi giới, doanh thu giảm hơn 30% xuống 28,7 tỷ đồng. Sau khi trừ 20,3 tỷ đồng chi phí, hoạt động này chỉ đóng góp khoảng 8,4 tỷ đồng trước chi phí quản lý chung.

Biến động cổ phiếu CTS từ đầu năm tới nay. Ảnh: Tradingview

Chi phí lãi vay của Vietinbank Securities tăng 80%

Trong quý II/2026, Vietinbank Securities phải chi hơn 158,2 tỷ đồng cho hoạt động tài chính, gần như toàn bộ là chi phí lãi vay. Con số này tăng hơn 80% so với mức 87,7 tỷ đồng của cùng kỳ năm trước.

Riêng chi phí lãi vay đã lớn hơn doanh thu lãi cho vay và phải thu trong quý. Dù không thể đối chiếu hoàn toàn hai khoản này, do nguồn vốn vay còn được sử dụng cho nhiều danh mục tài sản khác, diễn biến trên cho thấy biên lợi nhuận của hoạt động sử dụng đòn bẩy đang chịu sức ép.

Tại ngày 30/6, CTS có hơn 8.303 tỷ đồng vay ngắn hạn, tương đương gần 68% tổng tài sản và khoảng 2,9 lần vốn chủ sở hữu. Tổng nợ phải trả đạt gần 9.382 tỷ đồng, gấp khoảng 3,3 lần vốn chủ sở hữu.

Quy mô vay lớn là đặc điểm phổ biến tại các công ty chứng khoán có hoạt động cho vay ký quỹ và đầu tư trái phiếu. Tuy nhiên, khi chi phí vốn gia tăng trong khi hiệu quả tự doanh giảm, đòn bẩy có thể khiến lợi nhuận biến động mạnh hơn.

Đến cuối quý II, tổng tài sản của CTS đạt gần 12.248 tỷ đồng, giảm nhẹ so với đầu năm. Nhưng cơ cấu tài sản đã có sự dịch chuyển đáng chú ý.

Giá trị danh mục FVTPL tăng hơn 713 tỷ đồng, tương ứng tăng 34,5%, lên gần 2.781 tỷ đồng. Đặc biệt, giá vốn cổ phiếu niêm yết tăng từ hơn 276 tỷ đồng lên 824 tỷ đồng, cho thấy công ty đã mở rộng đáng kể quy mô đầu tư cổ phiếu trong nửa đầu năm.

Dư nợ cho vay đồng thời tăng hơn 357 tỷ đồng. Để cân đối nguồn vốn, CTS giảm gần 788,3 tỷ đồng các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, chủ yếu là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi.

Lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong sáu tháng đầu năm âm hơn 179 tỷ đồng. Tiền và các khoản tương đương tiền giảm từ 733,4 tỷ đồng đầu năm xuống còn 428,9 tỷ đồng cuối tháng 6.

Dòng tiền âm không đồng nghĩa toàn bộ lợi nhuận không thu được bằng tiền. Nguyên nhân chính là công ty tiếp tục giải ngân vào danh mục FVTPL và mở rộng dư nợ cho vay, trong khi một phần nguồn vốn được rút ra từ các khoản tiền gửi nắm giữ đến ngày đáo hạn.

Lũy kế 6 tháng, CTS đạt 81,3 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, giảm hơn 71% so với cùng kỳ. Danh mục FVTPL lỗ ròng gần 4 tỷ đồng trước chi phí tự doanh, trái ngược hoàn toàn với khoản lãi gần 270 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2025.

Kết quả này cho thấy lợi nhuận của CTS đang phụ thuộc đáng kể vào biến động giá tài sản tài chính. Cho vay ký quỹ và đầu tư công cụ có thu nhập cố định vẫn tạo ra dòng thu ổn định, nhưng chưa đủ bù đắp hoàn toàn cú trượt của tự doanh cổ phiếu, nhất là trong bối cảnh chi phí lãi vay tăng nhanh.